Lượt xem: 1117

Đề xuất phát triển điện gió ngoài khơi - Đưa Kinh tế tri thức vào phát triển nghành dầu khí dựa theo quản trị tri thức là chủ đề của diễn đàn Kinh tế biển 2020

Với bờ biển dài hơn 3.000km, diện tích vùng biển hơn 1 triệu km2 cùng nhiều vùng gió có vận tốc và thời lượng tốt, Việt Nam được đánh giá có tiềm năng rất lớn để phát triển điện gió ngoài khơi.

Chi phí lưu trữ và truyền tải điện giảm

TS. Đinh Văn Nguyên, Trưởng dự án phát triển năng lượng ngoài khơi toàn quốc của Cộng hòa Ireland, cho rằng với mô hình điện gió ngoài khơi, ưu điểm đầu tiên và lớn nhất là gió ngoài khơi mạnh vào ban ngày, thường phù hợp với nhu cầu điện. Vì vậy, chi phí cho lưu trữ và truyền tải điện gió ngoài khơi sẽ giảm thiểu hơn, đồng thời điện sa thải cũng thấp hơn. Điều này đã làm giảm khó khăn lớn nhất trong phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) là điện nền (thường phải dùng điện khí, điện than, hoặc một phần thủy điện). Thứ hai, gió ngoài khơi ổn định hơn và hệ số công suất cao hơn, có thể đạt 40 - 50% (ở Việt Nam), làm giảm chi phí sản xuất điện, tăng tuổi thọ hệ thống cơ khí, kết cấu...

Về mặt kỹ thuật xây dựng và môi trường, điện gió ngoài khơi cũng cạnh tranh hơn các loại điện khác. Cụ thể, việc vận chuyển, lắp dựng các tua bin lớn (giảm chi phí sản xuất điện quy dẫn) dễ dàng bằng tàu/sà lan. Những tua bin lớn như 9 MW có cánh dài 80m, 12 MW có cánh dài 107m, việc vận chuyển trên đất liền gần như là bất khả thi, nhưng sẽ dễ dàng trên biển. Tương tự về mặt môi trường, phát thải CO2 của điện gió ngoài khơi là thấp nhất trong các dạng năng lượng, chỉ 16g CO2/kWhe). Trong khi thủy điện là 28g CO2/kWhe, hạt nhân 33g CO2/kWhe, điện khí gas 450g CO2/kWhe, và điện than 1.050g CO2/kWhe. Thêm vào đó, mô hình điện gió ngoài khơi hầu như không gây ảnh hưởng đến đời sống con người bởi tiếng ồn trong quá trình lắp dựng, vận hành, cản trở tầm nhìn, nhất là điện gió ngoài khơi hiện đại thường cách bờ trên 10km.

Hấp dẫn hơn EU và Bắc Mỹ

TS. Nguyễn Duy Khiêm, chuyên gia năng lượng của Trường đại học Quy Nhơn (Bình Định), cho biết bản thân từng nghiên cứu loại hình năng lượng này. Thời điểm đó, suất đầu tư ngoài khơi cao hơn đất liền một chút, nhưng về mặt kỹ thuật đo đếm, tốc độ gió trung bình ở trên các vùng biển Việt Nam rất thuận lợi.

Mô hình điện gió (gần bờ) ở Bạc Liêu

Hiện Chính phủ cũng có giá điện cho loại hình năng lượng này, việc truyền tải điện cũng không quá phức tạp và các nước cũng đã làm nhiều. Vì thế, đây là mô hình hiệu quả và khả thi đặc biệt với điều kiện đất đai ở Việt Nam có giới hạn, việc tận dụng mô hình điện gió ngoài khơi sẽ tối đa hóa tài nguyên với dải bờ biển dài từ bắc tới nam.

“Theo tôi được biết, các ngành chức năng đang soạn thảo Quy hoạch điện VIII (thay thế Quy hoạch điện VII, đã điều chỉnh). Theo quy hoạch mới này, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn được đưa lên tới 30%. Để năng lượng tái tạo phát triển đúng tỷ lệ đó thì phải đồng loạt đẩy mạnh phát triển tất cả các loại hình, trong đó điện gió ngoài khơi là một phần rất quan trọng. Đầu tiên phải xác định hướng chiến lược như vậy và sau đó có những cơ chế chính sách đi kèm”, TS. Nguyễn Duy Khiêm đề xuất.

TS. Đinh Văn Nguyên nhận định: Trong tương lai, khi công nghiệp điện gió ngoài khơi cùng chuỗi sản xuất, lắp dựng, vận hành và bảo dưỡng đã phát triển thì điện gió ngoài khơi ở Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn các vùng có khí hậu lạnh như EU, Bắc Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc. Bởi ở vùng biển Việt Nam tình trạng sóng và thời tiết tốt hơn nên giá thành kết cấu móng, trụ sẽ thấp hơn, các tua bin, cánh quạt sẽ có tuổi thọ cao hơn và chi phí cho lắp dựng và bảo dưỡng sẽ tốt hơn. Thêm vào đó, điện gió trên biển ở Việt Nam không có thời gian cánh quạt bị đóng băng (icing time) nên giúp tiết kiệm chi phí và tối đa hóa thời gian vận hành.

Mặc dù vậy, TS. Nguyên cũng lưu ý với điều kiện gió và địa hình biển ở Việt Nam, các trang trại gió (wind farm) cách bờ trên 20km sẽ có lợi về kinh tế hơn so với ven bờ. Chi phí cho bảo dưỡng, sửa chữa tua bin, cáp trên biển lớn hơn nhiều so với trên đất liền nên để giảm thiểu các chi phí này, ngay từ giai đoạn lập dự án cần lưu ý dùng tua bin tốt, có uy tín và tránh tất cả các nhà sản xuất Trung Quốc (có số lượng bán ra nhiều nhưng chủ yếu là ở thị trường Trung Quốc, chưa có uy tín trên thế giới). Xây dựng trang trại gió lớn (500 MW trở lên) để có thể tạo thành chuỗi dịch vụ nhằm giảm chi phí bảo dưỡng.

Đưa Kinh tế tri thức vào phát triển nghành dầu khí dựa theo quản trị tri thức.

Nhân sự PVC chuẩn bị Đại hội Đảng lần 3, Thạc sĩ - kỹ sư Đỗ Văn Hải cán bộ lâu năm trong nghành đã gởi đến đại hội một bản góp ý có nội dung như sau: 

Với tinh thần trách nhiệm đối với Đất nước, với nghành Dầu khí, tôi xin có một số ý kiến góp ý gửi tới Đại hội Đảng bộ PVN lần III như sau:

Rõ ràng hiện nay ngành dầu khí đang đứng trước những thách thức khó khăn nhất, từ ngày thành lập ngành đến nay. Đó là

  • Bệnh dịch Virus Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp hơn, nguy hiểm hơn, kéo dài hơn.
  • Khủng hoảng kinh tế Thế giới dẫn đến sản xuất đình trệ, giá dầu xuống thấp.
  • Sự gây hấn của Trung Quốc với ý đồ bắt các nước ASIAN (trong đó có Việt Nam), các nước trên Thế giới phải công nhận chủ quyền với đường lưỡi bò của Trung Quốc. Điều này đã gây bất ổn ở Biển Đông, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thăm dò , khai thác của PVN.
  • Hậu quả gây thiệt hại rất nghiêm trọng đến hàng tỷ USD của thời kỳ ông Đinh La Thăng đến nay vẫn còn đang phải khắc phục và chưa biết bao giờ chấm dứt. Điều này dẫn đến nhân sự cấp cao của PVN luôn không ổn định; Lòng tin đối với PVN của người lao động trong ngành, nhân dân toàn VN bị giảm sút nghiêm trọng.

Trong báo cáo chính trị sẽ được trình bày trước Đại hội Đảng bộ PVN lần III vẫn chưa nêu bật được vấn đề: Đổi mới tổ chức, nâng cao sức chiến đấu của Đảng bộ PVN để lãnh đạo PVN hoàn thành nhiệm cụ chính trị, kinh tế được Đảng, Nhà nước giao phó.

Tôi xin gửi Đại hội nội dung các bức thư tôi đã gửi tới ông Phạm Minh Chính, UVBCT, Trưởng ban Tổ chức Trung ương và ông Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương về đề tài      “ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG TỪ TRUNG ƯƠNG TỚI CƠ SỞ, TRONG THỜI KỲ CÁCH  MẠNG HIỆN NAY”. Nay tôi xin gửi kèm theo, để Đại hội tham khảo. Thiết nghĩ đây là vấn đề quan trọng nhất mà Đại hội cần bàn kỹ và làm rõ hơn hết. Vì chỉ khi Đảng bộ PVN thật sự vững mạnh thì mới có thể đưa ngành dầu khí thoát khỏi khủng hoảng và hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó.

Bàn về việc xây dựng chiến lược sản xuất và kinh doanh của PVN, tôi có một số ý kiến cụ thể như sau:

  1. Đại hội XII đã cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 đã đề ra tại Đại hội XI: “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”.

Bởi vậy, triết lí nền tảng xuyên suốt chiến lược của PVN là: ĐƯA KINH TẾ TRI THỨC VÀO PHÁT  TRIỂN NGÀNH DẦU KHÍ DỰA THEO QUẢN TRỊ TRI THỨC

Đại hội cần làm rõ nội hàm của Kinh tế tri thức trong ngành dầu khí cụ thể sẽ là những gì?

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh việc xây dựng và phát triển ngành dầu khí phải dựa vào QUẢN TRỊ TRI THỨC. Vì nếu không, dù chiến lược có xây dựng công phu, tỉ mỉ đến mấy cũng sẽ không thể thực hiện thành công được và sẽ lại dẫn đến thất bại như ở nhiệm kì 2015-2020 mà thôi, vẫn theo “vết xe đổ” …

Trong khoa học quản trị đã chỉ rõ yếu tố thực hiện thành bại của mọi việc là dựa vào hai yếu tố chính sau: đó là TỔ CHỨC và NGƯỜI LÃNH ĐẠO. Ông Ikujiro Nonaka (người Nhật) là cha đẻ của lí thuyết khoa học “ Quản trị dựa vào tri thức”.

Bởi vậy, chỉ khi tái cấu trúc triệt để theo chuẩn Quốc tế, thì mới hy vọng PVN phát triển ổn định và bền vững. Hai người Mỹ Micheal Hammer và James Champy là cha đẻ của lí thuyết khoa học về tái cấu trúc doanh nghiệp này.

Tôi xin gửi kèm hai bài viết của tôi về vấn đề trên. Đó là bài viết “ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÔNG QUA CUỘC CÁCH MẠNG VỀ TÁI CẤU TRÚC”, và bài “ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC DỰA VÀO QUẢN TRỊ TRI THỨC”, để Đại hội tham khảo.

  1. Hiện nay, tôi đang cùng với các cơ quan chức năng chuẩn bị nội dung cho DIỄN ĐÀN KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM lần thứ nhất. Tôi nhận thấy Ngành dầu khí PVN không chỉ thực hiện nghị quyết 41 của Bộ Chính trị về chiến lược phát triển ngành dầu khí, Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị về Phát triển ngành năng lược Việt Nam, mà còn cần kết hợp thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về Phát triển Kinh tế Biển Việt Nam. Vì sao như vậy?

Là bởi vì “ngành dầu khí là sự nghiệp của cả nước và vì cả nước, có trách nhiệm tạo  điều kiện, hỗ trợ, hợp tác với các ngành, các địa phương cũng như vì sự nghiệp chung của cả nước”.

PVN đề nghị Bộ Chính trị cho phép PVN tham gia toàn diện nội dung của Kinh tế Biển theo năng lực của PVN cho phép. Khi đó PVN sẽ là lực lượng chủ chốt để tạo đột phá về Kinh tế Biển, để dẫn dắt Kinh tế Biển phát triển bền vững và mạnh mẽ, hiệu quả.

Ở đây, PVN sẽ phát triển các dự án về thăm dò khai thác dầu khí, về năng lượng tái tạo như Điện gió ngoài khơi, năng lượng dòng hải lưu, năng lượng sóng và thủy triều biển …. Ngoài ra, PVN còn sử dụng các đơn vị như PV-GAS, Phân bón và Hóa chất, dịch vụ tổng hợp … tham gia vào việc xây dựng chuỗi phát triển Hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật cho 28 Tỉnh Thành ven biển như trong quy hoạch về phát triển kinh tế Biển, đưa 28 Tỉnh Thành này trở thành những khu công nghiệp lớn nhất và mạnh nhất của cả nước, góp phần quan trọng để chống lại khủng hoảng do Covid-19, do khủng hoảng của nền kinh tế Thế giới ..., để biến Việt Nam trở thành một cường quốc về Biển, để VN phát triển ổn định, bền vững và tương lai sáng lạn, sánh vai với các cường quốc năm châu, như Hồ Chủ tịch hằng mong ước.

Thạc sĩ - kỹ sư Đỗ Văn Hải

Thạc sĩ - kỹ sư Đỗ Văn Hải còn nói thêm: Phát triển một “nền kinh tế biển xanh” có nghĩa là nền kinh tế đó phải được phát triển dựa vào hệ sinh thái bền vững, ít chất thải, ít các-bon, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, công nghệ sạch hơn, an toàn thực phẩm và sản phẩm biển có sức cạnh tranh cao. Đây thực sự là những vấn đề rất quan trọng đòi hỏi các ngành, các cấp và cộng đồng phải chung tay vào cuộc một cách mạnh mẽ hơn và mang tính đột phá hơn. Từ đó, tiếp tục góp phần thực hiện thành công Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030. 

Trần Kiên (tổng hợp)


© Copyright 2020 TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRỰC TUYẾN TVO.