Lượt xem: 625

ĐÁM GIỖ NGÀY XƯA.

Tự truyện của Khờ Ang

Tôi từ khi đi học xa, đi làm xa thì có đến những 30 năm tôi không về quê ăn đám giỗ nhà tôi được. Lý do là, các đám giỗ lớn của nhà tôi đều rơi vào khoảng thời gian đặc biệt: hai cái ngay sau tết nửa tháng và hai cái trước tết nửa tháng. Sau tết nửa tháng là đám giỗ ông nội, bà ngoại tôi; trước tết nửa tháng là đám giỗ ba tôi và ông ngoại tôi. Năm nào ăn tết dài thì mùng 10 đã phải đi. Trước tết thì nếu về ăn giỗ và vô lại, rồi một tuần sau lại về tết nữa cũng rất bất tiện. Cứ lèng èng miết vậy, thế nên, chẳng phải do xa xôi cách trở gì nhưng có đến 30 năm tôi không về dự những đám giỗ lớn của nhà tôi được. Năm rồi vì cô vy, cô vít nên tôi rảnh rỗi về tết sớm và được ăn giỗ ở quê.
Thường ở quê mỗi nhà trong xóm đều có ít nhất một cái giỗ lớn để mời bà con xóm làng tới ăn giỗ. Ngoài ra, mỗi nhà có vài cái giỗ nhỏ nữa gọi là đám giỗ xúi xẩm: là đám giỗ chỉ gói gọn trong gia đình ăn chứ không mời khách khứa. Ngoài hai cái hai cái giỗ trong mỗi gia đình ra thì còn có đám giỗ tộc (đám giỗ họ). Đám cúng làng, cúng miễu, cúng đình, đám cúng Thành Hoàng…là các đám cúng, lễ hội của xóm, của làng.
 
Còn nhớ như in buổi sáng ngày xa xưa ấy, khi nhà có đám giỗ thì buổi sáng hôm ấy ba tôi sai tôi đi mời đám giỗ. Thường người lớn sẽ đi mời đám giỗ chứ bọn con nít khờ thì ít khi sai đi mời đám giỗ. Thế nên, lần đầu được giao đi mời đám giỗ cũng là một vinh dự vì mình được tín nhiệm cao. Tôi hỏi ba tôi:
- Đi mời thì con đi được nhưng mà tới gặp ai, nói làm sao?
Lần đó đi mời đám giỗ thì gặp mấy chú tập trung uống trà đông, tôi vào mời chủ nhà rồi đi về. Mấy chú kia kêu lại hỏi: Có mời chú không? Có người ba tôi có dặn mời thì tôi nói: “có”, chút nữa con tới nhà chú con mời. Những người khác, dù quen hay lạ mà ba tôi không dặn mời thì tôi nói: “không”. Một số người khác tôi không nhớ thì tôi nói: để con về hỏi ba con lại có mời chú không.
Khi tôi về nói lại chuyện này với ba tôi thì ba tôi cười và nói với tôi:
- Khi đi mời đám giỗ gặp ai thì sẵn mời luôn chớ. Ai không quen cũng mời một tiếng, nói sẵn có chú, bác, ông…đây, con mời trưa ra nhà con ăn giỗ luôn chớ.
Lúc ấy tôi chừng 14, 15 tuổi gì đó nhưng vẫn còn khờ đặc, chỉ giỏi đi hoang lung, phá làng, phá xóm. Trừ lúc đi học ra thì tôi tối ngày chỉ lo ra bãi soi chận bò, bắt dế, bắn chim, thả cá…chỉ chơi với lũ chận bò chứ ít tiếp xúc với người lớn.
 
Nói về chuyện mời đám giỗ thì nhớ có chuyện này: Có ông kia mỗi năm nhà có một cái đám giỗ nên thường là cũng giỗ lớn. Cứ mỗi lần đám giỗ là nhờ thằng hàng xóm đi mời khách dùm. Năm đó vì nhà phía vợ có ông già vợ bệnh nặng, hấp hối, chỉ mình ổng ở nhà nên chỉ làm xúi xẩm một mâm để còn đi về phía vợ lo cho ông nhạc. Thằng hàng xóm thì sáng ngày đám giỗ có việc hẹn đi sớm nên chiều hôm trước đã tự động đi mời khách dùm. Trưa đó, khách ùn ùn kéo tới ăn giỗ mà đồ ăn thì chỉ có một mâm nhỏ xíu. Dở khóc dở cười với thằng hàng xóm nhớ giỏi và quá nhiệt tình này.
 
Đám giỗ của người Tuy Hòa - Phú Yên thường không có ngày giỗ tiên thường mà tối trước đám giỗ thường có cúng nước. Cúng nước là cúng bánh ngọt và bánh ít và có chén nước ý nói mời ông bà, những người đã khuất nếu về trước thì ăn lót dạ qua đêm để chờ đến sáng mai. Sau khi cúng nước xong thì cả nhà, cùng bà con láng giềng, những người bà con ở xa về sớm… quây quần ăn bánh, uống trà, nhắc lại chuyện xưa, tích cũ liên quan tới người đã khuất và chờ bánh tét chín.
Đám giỗ ngày xưa khá đơn giản nhưng phải lo trước ít nhất là hai, ba ngày, có khi cả tuần vì những món ăn đều là tự làm, chỉ có thịt heo là phải đi mua và mua bằng tem phiếu, còn lại các món khác thì đều tự làm hay bà con chòm xóm, dòng họ mang tới và xúm nhau cùng làm. Hồi đó đi đám giỗ thường mang theo chục khổ qua, chai mắm nhỉ, ký thịt hay con gà, chục trứng vịt…và tới sớm để cùng phụ nấu nướng. Đám giỗ thì hay làm các món sau: dĩa giữa là dĩa thịt phay, chả ram, chả thủ, chả giò…. Các món khác là cơm, bún, canh xương heo nấu ngọt, cà ri và vài món nữa như canh bầu, canh bí, canh khổ qua, canh khoai từ, khoai mài (khoai mỡ), đậu cô ve xào, trứng đổ chả…Các món xôi bánh thì có bánh ít, bánh nậm, bánh tét, bánh chưng, bánh tro, bánh cúng, bánh tày, xôi chè, xôi nước, xôi in…
Hoa quả cho đám giỗ ngày xưa cũng đơn giản. Thường trên mỗi bàn thờ có một cái lục bình để cắm hoa và một cái cỗ bồng để chưng trái cây. Hoa thì thường là hoa điệp vàng, điệp đỏ, bông trang, gần tết thì có thêm vạn thọ. Một số người nhà gần bầu thì có thêm hoa sen. Trái cây trên cổ bồng cũng đơn giản, thường là chuối, mãng cầu hay bưởi...
Dĩa thịt phay của người Phú Yên là dĩa thịt heo luộc, chính giữa có thêm thịt nướng lụi và trứng đổ chả cuộn tròn xắt ra. Dĩa giữa cũng được thay ra khi ăn sắp hết. Cháo là món đầu tiên, sau đó là dĩa thịt phay, các món sau đó như chả giò, chả ram, chả thủ…Dĩa giữa trừ cháo và dĩa phay, các món đều dọn theo nguyên tắt cộng 1: dọn bàn 12 người thì làm 13 miếng mỗi người gắp một miếng còn 1 miếng thì bưng xuống chứ ít ai ăn luôn miếng đó. Trong bàn ăn thì “kính lão đắc thọ”: khi dọn một món mới lên thì người cao tuổi nhất trong bàn gắp trước rồi mới lần lượt đến những người con lại. Rượu đãi trong đám giỗ cũng vậy, thường có 3 ly chạy xoay vần và người lớn tuổi nhất được mời uống trước. Trên bàn ăn lúc nào cũng món bánh tráng nướng, chén xôi in và có hai gói nem chua để nhắm rượu.
Khác với đám cưới là dọn ăn vào buổi sáng, đám giỗ thường dọn vào buổi trưa và kéo dài cho tới tối. Những người đi làm xa, dặng công việc thì thường tới trễ, tới vào chiều tối, lúc này còn gì ăn nấy hay chỉ ăn cái bánh nậm, bánh ít…
Sẽ là thiếu sót lớn nếu như đám giỗ mà không có bánh nậm, bánh ít lá gai, bánh ít ngọt. Bánh tét thì chỉ nhà nào làm đám giỗ lớn mới có, còn bánh ít, bánh nậm là phải có. Thường trước đám giỗ vài ngày phải lo đi rọc lá chuối, chọn những lá chuối to, còn nguyên vẹn rọc đem về phơi héo đi để chuẩn bị cho việc gói bánh ít, bánh tét. Nhà nào gói bánh tét thì phải lo đi cắt tranh về phơi héo để làm lạt buộc bánh. Lá gai cũng được hái sớm đem về rửa sạch, xắt nhỏ ra để sẵn.
Bánh ít có hai loại là bánh ít mặn và bánh ít ngọt. Bánh ít ngọt thì làm bằng bột nếp với lá gai nên gọi là bánh ít lá gai. Bột làm bánh ít lá gai là bột nếp, đem trộn với lá gai đem giã, xay ra rồi gói bánh với nhân đỗ, dừa, khi nấu chín lên thì có màu đen óng. Bánh ít trắng là bánh ít mặn, cũng làm bằng bột nếp và gói với nhân đỗ, dừa, tôm, thịt và không có lá gai. Bánh nậm thì làm nhanh và dễ hơn nên thường khuya ngày đám giỗ mới xay bột, nấu bột và gói rồi đem hấp. Bánh ít, bánh nậm thường làm rất nhiều để khi khách ăn giỗ xong ra về thì chủ nhà sẽ tặng một bịch bánh đem về cho con, cho cháu.
Bánh ít ,nhất là bánh ít lá gai và bánh nậm của người Tuy Hòa ngon đến lạ lùng. Ăn vào vị ngon nó cứ như đọng lại trong miệng, mùi thơm xông lên mũi: mùi thơm và vị ngon không thể tả. Nhất là bánh có mùi thơm của lá chuối nữa nên dù đi xa bao nhiêu năm nhưng tôi vẫn không thể quên được hai món này!
 
Ngày xưa, đám giỗ là dịp trẻ con rất vui vì biết chắc chắn là có một bữa thịt no nê, đã đời. Bọn trẻ như chúng tôi thì mỗi lần nhà có đám giỗ cũng vui lắm. Nhớ nhất là buổi sáng ngày đám giỗ thì các bà, các mẹ lo nấu nướng. Chúng tôi canh lúc đập trứng vịt ra đổ chả thì gom các vỏ trứng lại, sớt phần lòng trắng trứng còn sót lại để dồn vào một vỏ cái trứng rồi đem nướng ăn. Trước khi cúng thì dù bánh trái nhiều, để không ai canh giữ nhưng không dám lấy ăn, đợi cúng xong mới dám lấy ăn vì sợ ông bà quở phạt. Những ngày có đám giỗ cũng tranh thủ xin vài cái bánh ít đem ra soi cho mấy đứa chận bò chung ăn. Nhiều khi có vài cái nhưng có tới bảy tám thằng thì mỗi thằng cắn một miếng, cảm giác nó ngon không thể tả.
 
Nhớ ngày xưa, khi tôi còn bé, tôi vẫn hay được mẹ tôi dẫn về ngoại ăn giỗ. Đi về ngoại thì đi bộ và phải băng đồng qua cánh đồng xa thăm thẳm. Thường cháu ngoại về nhà ngoại hay được cậu mợ, cô dì cưng hơn mấy cháu bên nội nên tôi được mấy dì lấy đồ ăn cho ăn thỏa thích. Còn nhớ có lần đi với má và mấy chị, ra tới khỏi mương rút giáp cánh đồng Hòa Tân thì tôi bị trượt chân té xuống mương nước, quần áo ướt hết và bê bết bùn, nên phải quay về một mình, vừa đi vừa khóc thút thít.
Đám giỗ ngày nay về hình thức tổ chức, món ăn, thức uống…đều khác xa với ngày xưa theo trí nhớ của tôi. Bây giờ hiện đại nên cái gì cũng đi mua, đặt làm chứ ngày xưa thì hầu hết là tự làm. Món ăn bây giờ cũng ngon hơn, phong phú hơn, có thêm thịt bò, tôm, mực, lẫu hải sản…Mời ăn giỗ cũng theo giờ giấc, dọn ăn thì cũng hiện đại, khách tới ăn giỗ thì thường rủ nhau hai người mang một thùng bia hay thùng nước ngọt. Sau khi ăn uống xong thì thường có cái loa kẹo kéo phục vụ ca nhạc…Đám giỗ ngày nay đối với một số người làm lớn, hoành tráng vì muốn thể hiện đẳng cấp, sự giàu có và cũng là dịp để “trả nợ miệng”.
 
Vì lâu ngày mới có dịp về nhà ăn đám giỗ nên tôi rất vui và được bà con, anh em trong xóm chăm sóc kĩ. Tôi không nhớ mình đã uống bao nhiêu ly bia, ca mấy bài hát…nhưng món ăn thì tôi không ăn nhiều. Tôi chỉ ăn dĩa bánh nậm, vài ba cái bánh ít và một vài món từ ngày xưa như xôi chè, cơm nếp ( xôi in)…là đủ no rồi.
Về tục lệ giỗ quải thì mỗi vùng miền cũng khác nhau. Ở Phú Yên thì khi người chết được để tang ba năm. Nói là ba năm chứ thật ra chỉ là 24 tháng kể từ ngày mất. Nhiều người thắc mắc tại sao nói ba năm mà chỉ 24 tháng? Là bỡi vì như thế này: cách tính tuổi cho người chết giống như tuổi người sống theo âm lịch, giáp tâu là đã được 2 tuổi. Sau 2 năm (24 tháng) là tính 3 tuổi, chỉ khác là người chết không gọi ba tuổi mà gọi là chết ba năm. Thế nên, gọi để tang 3 năm nhưng thực ra chỉ 24 tháng là vậy. Trong khoảng thời gian này có các đám làm tuần: 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày, 1 năm, tuần tháng 7 và tuần cuối cùng là tuần mãn tang. Trong thời gian còn tang, nhà nào kỹ thì quải cơm cho người chết suốt 24 tháng, nhà nào neo đơn thì quải cơm 49 ngày hay 100 ngày sau đó là cúng sát vọng hàng tháng hai ngày vào các ngày mùng 2 và 16 âm lịch. Một số người sau khi mãn tang rồi vẫn con thương tiếc, nhớ nhung người đã khuất nên trong bữa ăn vẫn để 1 chén cơm, 1 đôi đũa trong mâm cơm và mời người chết về ăn cho đến khi nào nguôi ngoai tiếc thương, nhớ nhung người đã chết thì mới thôi. Đa số các đám làm tuần này là làm chay và có mới thầy chùa về cúng. Tháng 7 của năm sau khi cúng tuần 1 năm thì thường cúng chay cả tháng và coi ngày nào tốt làm tuần tháng 7 cho người chết (tuần thí). Làm tuần 3 tháng 10 ngày cũng vậy, sau ba tháng thì coi ngày tốt làm tuần một ngày trong 10 ngày cuối chứ không nhất thiết làm đúng vào ngày thứ 100. Sau khi làm tuần mãn tang thì những năm sau là bắt đầu ngày giỗ, còn gọi là ngày kị.
 
Cúng tuần tháng 7 cho người chết gọi là cúng tuần thí hay cúng thí thực. Đám cúng tuần thí này cúng vào tháng 7 sau khi đã làm cúng tuần một năm. Ngày xưa nhà nào có cha mẹ qua đời thì thường cúng tuần thí rất lớn. Cúng tuần thí thường cúng đồ ăn, bánh trái, hoa quả và tiền thật chứ không có cúng tiền vàng bạc (vàng mã). Sau khi cúng xong thì đem đồ ăn, bánh trái, hoa quả… được quăng ra sân hay bưng ra để ngoài đường. Còn nhớ, hồi nhỏ vào tháng bảy chúng tôi hay canh để đi tranh giành, lượm đồ ăn và tiền ở các đám cúng tuần thí trong làng và gọi là đi giựt tuần thí.
 
Có một điều nên nhớ là: “đám giỗ tính nhuần, làm tuần tính đủ”. Điều này có nghĩa là: Nếu nhà có đám giỗ vào tháng nhuần của năm nhuần thì làm đám giỗ vào tháng trước, còn  đám làm tuần thì cứ tính đủ ngày, tháng mà làm. Dù là dư ra một tháng của năm nhuần nhưng khi người chết giáp năm vẫn chỉ tính là hai năm.
 
Để phân công và nhắc nhở con cháu phải cúng giỗ cho ông bà, cha mẹ thì các cụ ngày xưa đặt ra luật từ đường, hương hỏa: hương hỏa là phần tài sản người chết để lại để dùng cho việc thờ cúng, giỗ quải, chăm sóc mồ mả cho mình và tổ tiên. Tài sản này thường là nhà cửa, đất đai, ruộng vườn và chỉ trao lại cho người kế thừa việc cúng kính chứ không được chia chác hay bán đi. Người hưởng phần từ đường, hương hỏa của người chết để lại thường là người con trai trưởng và phải có trách nhiệm lo nhang đèn, giỗ chạp hàng năm. Một số người không có phần hương hỏa, từ đường gì nên không có đám giỗ quải gì, sau khi cha hay mẹ lìa đời mới có đám giỗ nên anh em giành nhau giỗ. Có nhiều nhà không tranh giành nhau giỗ mà mỗi người làm giỗ một ngày (thường là các con trai) gọi là đám giỗ dây: đi ăn đám giỗ kéo dài 3, 4 ngày, có khi kéo dài cả tuần.
 
Ngoài đám giỗ trong ra đình thì phong tục của người Phú Yên còn có giỗ họ. Giỗ họ là giỗ cho các bậc tiền hiền đã mất từ 5 đời trở lên: ông cố, ông cao, ông sư, ông sờ, ông sẫm..Trước kia thì trưởng họ là người được hưởng hương hỏa nên phải có trách nhiệm cúng giỗ họ nhưng nay thì đa số con cháu các chi, các phái của họ về cùng góp tiền để giỗ. Đây cũng là dịp cho con cháu các chi, các phái tụ về cho biết dòng họ, tổ tiên để không quên gốc gác của mình. Thường con gái đi đám giỗ họ hay không cũng được nhưng con trai trên 18 tuổi là phải đi nếu như điều kiện cho phép và phải đóng góp vào đám giỗ họ.
 
Đám giỗ, đám quải và các đám cúng như cúng xóm, cúng làng, cúng đình, cúng miễu…là một nét đẹp văn hóa tâm linh có truyền thống từ xa xưa. Việc cúng giỗ cũng là thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” có từ lâu đời của dân tộc ta. Đây cũng là dịp để gia đình đoàn tụ về bên nhau cùng kỉ niệm ngày ông bà, cha mẹ hay tổ tiên đời trước qua đời và cũng là dịp để anh em, con cháu, bà con xóm làng thắt chặt tình thân. Đám giỗ, thờ cúng của người Việt có thể có từ thời các vua Hùng Vương, căn cứ theo sự tích bánh chưng, bánh dày: người con thứ 18 của Vua Hùng Vương thứ 6 là Lang Liêu đã được thần linh báo mộng nên làm ra những cái bánh chưng, bánh dày để dâng cúng trời đất, ông bà, tổ tiên và đã được vua cha truyền cho ngôi báu, trong khi các vị hoàng tử khác thì dâng lên bao nhiêu sơn hào hải vị, bao nhiêu la món ngon, vật lạ nhưng không được chọn.
 
Ngày xưa hay ngóng mẹ đi chợ về để kiếm cái bánh cam, bánh bò hay vài viên kẹo và hay canh ba đi ăn đám giỗ về kiếm cái bánh ít, bánh nậm..Nhà nào cũng đông con nên thấy mẹ đi chợ về từ xa là tranh nhau chạy ra đón, có được cái bánh, cái kẹo là mừng dấp té. Người lớn, nhất là cha hay ông bà đi ăn đám giỗ thì chủ nhà thường gởi tặng một bịch bánh đem về cho con, cho cháu. Cái bánh bò của mẹ, bánh ít, bánh nậm của cha ngày xưa nó ngon đến lạ, ăn hết rồi còn thèm, liếm cái lá cho sạch nhẵn mới thôi. Thế nên, ngày xưa anh em, con cháu hay giành cha, giành mẹ, giành ông bà: cha là của tao, mẹ là của tao, ông bà là của tao…
 
Tôi nghĩ rằng, chúng ta đừng quá câu nệ là phải làm đám giỗ cha mẹ, ông bà thật lớn, thật hoành tráng. Khi ông bà, cha mẹ còn sống chúng ta nên hỏi han, quan tâm, chăm sóc, mua đồ ăn về cho cha mẹ, ông bà ăn, cấp dưỡng thuốc men cho ông bà, cha mẹ lúc tuổi già…Một khi ông bà, cha mẹ xách nón theo tổ tiên rồi, nếu có tiền thì làm đám giỗ lớn, ít tiền thì nên làm xúi xẩm, cốt sao thể hiện cái tấm lòng của mình với tiền nhân, người đã khuất là được rồi.
Sài gòn tháng 6/2021. Khờ Ang
Cố vấn tục lệ: Bá Toàn

© Copyright 2020-2021 TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRỰC TUYẾN TVO. Thiết kế bởi Zozo