Lượt xem: 142

ĐÁM CƯỚI NGÀY XƯA.

Tự truyện của Khờ Ang

Trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng, dựng vợ gả chồng cho con cái là nỗi lo đau đáu của cha mẹ khi con cái lớn lên. Để có được một đám cưới cho đôi bạn trẻ thì trước đó đã có một quá trình chuẩn bị tương đối dài. Trong bài "Nhớ những ngày xưa cưa gái" tôi cũng nói khá chi tiết về các phương cách mà trai gái đến với nhau thời xưa. Bài này chủ yếu nói về các thủ tục, nghi lễ và hình thức tổ chức đám cưới ngày xưa.
Nói về các thủ tục cho đám cưới ngày xưa thì rất dài, gồm nhiều thủ tục và nghi lễ rườm rà. Một số thủ tục đám cưới của người Tuy Hòa - Phú Yên quê tôi và miền Trung có phần khác nhiều so với miền Bắc hay miền Nam. Tôi chỉ tóm tắt qua bốn cái lễ chính là viếng nhà, đám hỏi, đám nói và đám cưới với mặc định rằng: cả hai yêu nhau, hạp tuổi và được gia đình hai bên đồng ý, đã chọn ngày, giờ tốt để làm đám cưới. Trong bài này cũng có nói về đám cưới ở rể, đám cưới chạy tang và đám cưới xí lượm.
Ngày xưa thì thường lễ viếng nhà (cách gọi khác của dạm hỏi) là nhà trai tới nhà gái chơi, hai bên gặp nhau để biết nhau. Chủ yếu là hai bên gặp nhau uống với nhau ly trà, chén rượu, hỏi thăm nhau để xác nhận là không có bà con, họ hàng ruột rà, máu mủ gì. Lễ viếng nhà này cũng là để xác nhận hai bên đồng ý cho hai con được phép tìm hiểu nhau.
Sau lễ viếng nhà là đám hỏi. Ngày xưa, khi đám hỏi thì nhà trai tới nhà gái đem theo hai ký thịt đùi heo nhưng sau này thay bằng cặp trà, cặp rượu. Viếng nhà chưa phải là lễ chính thức, đám hỏi mới là lễ chính thức và có các nghi lễ, nghi thức bắt buộc phải tuân theo. Viếng nhà thì thường đi hai người: cha mẹ hay anh chị đi đều được. Còn đám hỏi là cha mẹ, anh chị và thường có thêm người họ hàng đi nữa. Trong đám hỏi nhà trai đến sẽ hỏi tên tuổi, ngày giờ sinh của cô dâu tương lai để về coi thầy, xem tuổi, định ngày cưới.. và cũng hỏi dò ý gia đình nhà gái xem làm đám nói, đám cưới khi nào cho tiện. Đây có thể xem như lễ vấn danh. Thật ra mấy chuyện này cũng thông qua chú rể tương lai biết hết rồi, đám hỏi chỉ tới hỏi để xác nhận một cách chính thức mà thôi. Năm cưới, tháng cưới, giờ làm lễ cưới thì chủ yếu là căn cứ theo tuổi cô dâu nên nhà trai trong đám hỏi thì chủ yếu là hỏi để xác định tuổi, ngày sinh, tháng đẻ của cô dâu.
 
Đám nói thì nhà trai tới nhà gái trao tiền nạp tài cho nhà gái (tiền này là làm "của" cho 2 con sau này), tiền nát cho đám cưới và thông báo ngày cưới cho bên nhà gái và cùng nhà gái xem xét, bàn bạc cách thức tổ chức đám cưới. Thường thì đám nói có các các mâm quả như sau: 1 quả trà có 2 gói trà, 1 quả trầu cau có 20 trái, 1 quả rượu có 2 chai rượu, 1 quả đường sữa…và 1 mâm cỗ tiền vàng, tiền nát. Tiền nát là tiền nhà trai trao cho nhà gái để lo mâm cỗ để ăn uống trong ngày đám nói và ngày cưới, số tiền này nhà gái ít khi nhận mà cho hai vợ chồng trẻ luôn để làm của. Trước kia thì đám hỏi riêng, đám nói riêng nhưng sau này hai đám này nhập một gọi là đám nói hỏi vợ hay đám hỏi nói vợ và nói ngắn là đám hỏi vợ thôi. Sau đám hỏi thì cũng chính thức cho hai con gọi cha mẹ của người yêu là cha mẹ.
Đám cưới thì họ nhà trai đi qua nhà gái trước, gồm người trong gia đình và dòng họ và ông già, bà cả trong làng. Nếu đi tổng cộng 6 người thì sẽ mang theo 4 mâm quả, nếu đi 10 người thì có 6 mâm quả (thường đi 10 người hơn, đám 6 người thường là đám ở rể). Thành phần đi họ nhà trai gồm cha mẹ, ông già bà cả trong làng, người lớn trong dòng họ, anh chị chú rể, 4 thanh niên và 2 bé gái thì bưng quả (2 bé gái giống phụ rể). Bên gái khi đưa dâu qua nhà trai thì cũng gồm cha mẹ, ông làng, ông họ, anh chị, 4 cô gái và 2 bé nam bưng quả (2 bé nam giống phụ dâu)…thêm một vài người nữa cho đủ tổng công 14 người (nếu nhà trai qua 6 người thì họ nhà gái đi lại 10 người). Họ nhà gái qua nhà trai luôn hơn họ nhà trai qua nhà gái 4 người, cũng có khi họ nhà gái đi đông hơn: 18, 20 người.
Có thể thấy ngay là từ đám viếng nhà tới đám hỏi, đám nói và đám cưới thì số người đi luôn là số chẵn. Các phần quà cáp trong nghi lễ cũng chẵn, như là cặp trà, cặp rượu…Trong đám cưới kị những gì liên quan tới số lẻ vì người dân quan niệm đi lẻ thì sau này sẽ lẻ loi, lẻ bóng, lẻ bầy, lẻ bạn…Số 3 và số 4 cũng kị vì theo qui luật Sinh -Lão- Bệnh - Tử tránh số 3 và số 4 là tránh bệnh, tránh tử. Những người được chọn đi họ là những người phải “sạch sẽ”: đó là những người nhà đang không có tang chế, không có vợ chửa (bà chửa thì chắc chắn không đi rồi)…Khi nhà trai tới nhà gái thì nhà gái cũng chuẩn bị thành phần tiếp tân để rước mâm quả vào nhà và tiếp các bạn nhà trai. Các bạn nữ tiếp tân này thường sau đó cũng sẽ đi họ nhà gái và được các bạn nam nhà trai tiếp lại. Nhiều cuộc tình bạn, tình duyên mới khởi đầu từ đây và có khi khi có đám cưới chắp đuôi cày. (Là đám cưới của các cặp do đi họ cho đám cưới mà gặp nhau. Nên nhớ, thời bây giờ gặp nhau dễ, chứ ngày xưa cơ hội gặp nhau là khó lắm.)
Đám cưới ngày xưa cũng kị tổ chức vào tháng giêng âm lịch vì tháng giêng là tháng tết, là tháng của trời Phật, phải đợi ra giêng mới cưới. Chữ giêng cũng gần âm với chữ riêng là riêng rẽ nên thôi cữ( đám cưới là bắt đầu những cái chung với nhau). Đám cưới cũng kị tổ chức vào tháng năm vì là tháng có tết giữa năm, tết nửa năm nên sợ sẽ chia đôi, sẻ nửa. Tháng 7 âm lịch cũng ít được chọn cho đám cưới vì là tháng cô hồn, ma quỷ nhiều và cũng là tháng của Ngưu Lang Chức Nữ: sợ chuyện tình sẽ buồn và chia ly, tan nát như truyền thuyết kia. Các tháng khác thì kị hai ngày là ngày mùng 1 (đầu tháng) và ngày rằm (15 âm lịch) vì hai ngày này là ngày linh thiêng, là ngày của Phật, vợ chồng cũng kiêng kị quan hệ trong hai ngày này vì không tốt cho sức khỏe và đường con cái. Ngày cuối tháng âm lịch như 29 , 30 cũng kị vì sợ bị dính “năm cùng, tháng tận” và cũng kị luôn các ngày mùng 5, 14, 23…Về giờ giấc thì cũng phải vào đúng giờ, nếu tới sớm thì phải đứng ngoài đường chờ, khi nào đúng giờ lành mới cho vào làm lễ.
 
Khi nhà trai đến nhà gái thì khi sắp đến giờ lành (đã nhờ thầy coi rất kỹ) chú rể phải vào thưa xin cho họ trai vào để làm thủ tục hôn lễ và báo cáo ông bà. (Một số nơi trước kia trước ngày cưới chú rể phải đi tới nhà cô dâu thỉnh áo cưới đem về nhà và không được cho ai xem, đến ngày rước dâu đem áo cưới tới cho cô dâu mặc.) Trước khi vào nhà có cái lễ trao mâm quả diễn ra trước cổng rạp nhà gái. Bốn bạn nam nhà trai trao mâm quả cho bốn bạn nữ nhà gái để các bạn nữ bưng vào nhà. Khi vào nhà gái rồi thì người làm chủ hôn sẽ làm các thủ tục như rót rượu mời (rượu này do nhà trai mang theo), trình bày lý do tới, hai bên giới thiệu thành phần tham dự rồi đưa mâm quả ra trình hai họ xem…Một số vật phẩm nhà trai mang qua sẽ được chưng lên bàn thờ tổ tiên nhà gái để cúng. Cô dâu chỉ lên khi chú rể đeo nhẫn cưới và làm lễ cúng gia tiên báo cáo cho ông bà ông bà tổ tiên có chàng rể mới. Trong lúc nhà trai ở nhà gái thì khi nói chuyện nhà trai muốn nói gì phải đứng lên nói, nhà gái thì không cần đứng lên…Sau khi xong xuôi các thủ tục thì nhà gái mời nhà trai ngồi vào bàn ăn. Chú rể không được ăn mà thường chỉ đứng phục vụ rượu trong bàn ăn này.
 
Khi ăn uống xong xuôi, các thủ tục cũng xong thì nhà trai về đợi nhà gái qua. Khác với phong tục ngoài Bắc là nhà trai sẽ rước cô dâu về, còn phong tục ở Phú Yên thì không có rước dâu về mà họ hàng nhà gái sẽ đưa cô dâu qua trao cho nhà trai. Khi nhà trai về thì nhà gái cũng có để lại một ít đồ trong các mâm quả cũng gọi là “lại quả” để nhà trai mang về. Trước kia thì nhà trai về chứ không mang mâm quả về ngay mà ba ngày sau chú rể hay người trong nhà đến nhà gái xin mâm quả lại và cũng phải cống nạp đùi heo mới cho lấy về. Các thủ tục khi nhà gái qua nhà trai cũng khác chút so với nhà trai qua nhà gái. Trước kia nhà gái qua nhà trai thì không mang mâm quả gì cả. Khi nhà gái qua nhà trai thì cũng có làm lễ cúng gia tiên như bên nhà gái để nhà trai nhận con dâu về nhà. Sau đó cũng được mời ăn uống. Cũng như nhà gái, cô dâu, chú rể cũng không ngồi vào ăn với họ hàng. Khi mọi thủ tục xong xuôi thì nhà gái ra về và để cô dâu lại cho nhà trai. Việc dọn ăn cho họ hai bên cũng phải hai bàn: một bàn nam, một bàn nữ ý muốn nói ăn uống cho có đôi, có cặp. Trong bàn ăn thì hay có chuyện ép rượu nhau giữa họ nhà trai và nhà gái.
 
Thời bao cấp, nhà có đám cưới thì cần may đồ cho cô dâu, chú rể kha khá nên phải mượn tem phiếu của bà con hàng xóm để mua vải về may cho cô dâu, chú rể. Ngày đó, nếu phụ nữ ai có áo nhung, đồ nhung là xem như là nhà giàu, sang trọng. Khi đám cưới thì nhà hai bên mua thêm nhiều thứ để chuẩn bị cho cặp đôi một căn phòng khang trang, sẵn sàng cho đêm tôn hôn. Thường phải mua chiếu mới, mền mới và cặp gối mới có thêu hai con chim bồ câu hay hoa hồng. Việc trang trí phòng, trải chiếu, xếp gối cũng phải nhờ một cặp vợ chồng nào trong số anh em, bà con có cuộc sống hạnh phúc, có đầy đủ con trai, con gái tới để tới dọn phòng, trải chiếu. Đêm tân hôn thì có thắp một cây đèn hột vịt trên đầu giường.
Khi trong dòng họ hay trong xóm có đám cưới cùng ngày thì các nhà có đám cưới ngầm tranh nhau đi họ trước hay rước dâu trước với ý nghĩa là đi trước sẽ mau mắn, tiến trước. “Tiên hạ thủ vi cường” mà, việc gì chủ động làm trước thì sẽ mau thành công hơn. Khi vào phòng nhà cô dâu thì cô dâu cũng tranh thủ bước vào trước, vào phòng nhà chú rể thì chú rể tranh thủ bước chân vào trước…cũng với ý nghĩa là muốn có lợi thế sau này.
 
Đám cưới là chuyện hệ trọng đối với cuộc đời một người. Ngày xưa các anh thi đậu các chức quan thì chỉ gọi là tiểu đăng khoa, đám cưới mới gọi là đại đăng khoa. Thế nên các nghi lễ, thủ tục về đám cưới và sau đám cưới là rất kỹ lưỡng, chu đáo và có phần rườm rà. Trước khi cưới và sau đám cưới thì có nhiều thủ tục cho 2 bên sui gia và cho vợ chồng trẻ. Hai bên sui gia thì có thủ tục “tết”. Đó là tết cho ông mai bà mai, tết vợ, tết thầy coi ngày, tết người đứng làm sui, tết cho người đi họ…”Tết” là cách gọi của hình thức tặng quà cho những người đã giúp cho đám cưới thành công mỹ mãn vào dịp tết nguyên đán. Đầu tiên là nhà trai đi “tết” cho nhà gái: sau khi đám hỏi mà chưa cưới thì tết năm đó nhà trai phải “tết” cho nhà gái cặp rượu, cưới rồi thì “tết” đầu heo và thường được nhà gái lại quả bằng cái giò heo. Các người từng phụ giúp cho đám cưới khác như thầy coi ngày, người đứng chủ hôn, người đi họ… thì tùy, gia chủ có thể tết rượu, trà, bánh…Thủ tục “tết” này thường kéo dài suốt 3 năm. Người đứng chủ hôn làm sui gia thì mỗi năm chỉ đứng một đám và trong năm đó sẽ không được làm nhà, mở mống nhà…vì sợ xui xẻo (sui và xui đồng âm).
 
Nếu vì một lý do nào đó mà nhà gái không chấp nhận làm đám cưới sau khi đã làm đám hỏi và đám nói rồi thì có thể đem trả của và phải đền gấp đôi tổng chi phí mà nhà trai đã bỏ ra, bao gồm chi phí lo mâm quả và "của" trao cô dâu, tiền nát....Còn nếu nhà trai hủy đám cưới thì xem như mất trắng, không đòi lại được gì trong số những thứ đã trao cho nhà gái. Chuyện trả của hay hủy đám cưới này cũng có xảy ra nhưng cũng hiếm. Những quy định trên là tương đối nặng, khắc khe để tránh chuyện trả của và hủy đám cưới. Một khi trả của hay hủy đám cưới xảy ra thì sẽ ảnh hưởng rất nặng đến danh dự và uy tín của bên bị trả của hay bên bị hủy đám cưới.
Đám cưới ngày nay thì thuê rạp, thuê người nấu về làm tất hay chỉ cần đặt nhà hàng tiệc cưới là họ lo từ A tới Z… Đám cưới ngày xưa là làm tại nhà và mọi việc, mọi thứ đều là do anh em, xóm làng, hai bên nội ngoại, bạn bè…xúm lại tự làm hết.
Đầu tiên phải kể tới là làm thiệp mời và đi mời khách cho đám cưới. Trước đám cưới chừng một tháng thì gia đình hai bên phải bắt đầu lo thiệp mời và chuẩn bị các món bánh trái để phục vụ trong ngày cưới. Thiệp làm sớm để tranh thủ đi mời và thường mời những người thân hai bên nội ngoại và bà con họ hàng, bạn bè. Mời ai thì cha mẹ phải đến tận nhà mời, có khi bà con dòng họ xa mấy chục cây số cha mẹ cũng phải đạp xe đi tới mời, đưa thiệp tận tay. Trước kia cũng có lệ là đi mời đám cưới thì mang theo chai rượu, tới gặp chủ nhà thì rót ly rượu ra mời và trình bày chuyện dựng vợ, gả chồng cho con xong mới đưa thiệp mời. Chủ nhà không uống rượu được thì nhấp môi thôi và xem như là đã đồng ý, sẽ đi dự đám cưới.
 
Bánh trái cho đám cưới cũng tương đối giống khi chuẩn bị tết ngày xưa, gồm có bánh thuẫn, bánh kẹp, bánh bông lan, bánh tro, rim, hạt dưa…Đặc biệt hơn chút là trong đám cưới có bánh bánh phu thê, bánh da lợn, bánh hồng, xôi chè…
Thường hai, ba ngày trước đám cưới thì mọi người trong dòng họ và bà con thân thiết trong xóm bắt đầu tập trung đến để lo cho đám cưới. Gia chủ thì chạy đôn chạy đáo lo các việc còn chưa xong ở bên ngoài nên giao các việc còn lại cho bà con dòng họ, anh em chòm xóm làm. Các chị em thì lo bánh trái, nấu nướng, các việc dưới bếp…Các anh lớp thì lo chặt cây, chặt tre, chặt tàu dừa, lớp khác lo mượn tôn, mượn bồ, tấm bạt che mưa…để cất rạp cưới. Một số khác thì lớp lo đi mượn bàn tròn, ghế đẩu, khăn trải bàn, bình pha trà, ly chén uống nước, đèn măng xông,…lớp thì lo cắt chữ, cắt hình để dán vào tường nhà, cổng rạp… Một khi thấy chữ “Lễ Thành Hôn” và chữ “Song Hỉ” đối với nhà trai hay “Lễ Vu Quy”- Song Hỉ đối với nhà gái được dán lên tường nhà và ngoài cổng rạp thì công việc chuẩn bị cho rạp cưới xem như hoàn tất. Một người cưới nhưng cả họ, cả xóm xúm vào lo nên rất vui. Rạp cưới thì thường cất trước ngày cưới một ngày, đảm bảo sao cho trong buổi chiều, trước ngày cưới một ngày là phải xong xuôi, hoàn tất để chuẩn bị cho buổi tiệc trà vào tối hôm đó.
 
Tiệc trà là một nét đặc trưng của đám cưới xưa của người dân Tuy Hòa - Phú Yên. Đám cưới ngày xưa có hai cái tiệc, đó là tiệc trà và tiệc rượu. Tiệc trà được tổ chức vào đêm trước ngày cưới chính thức. Khách mời cho buổi tiệc trà thì đa số là bạn bè của cô dâu, chú rể. Điều này thể hiện rõ trên thiệp cưới là mời tiệc trà hay tiệc rượu. Tiệc trà là tiệc ngọt, đãi khách khứa bằng bánh trái, trà nóng và rim, mứt, hột dưa… Chỉ có một số bạn bè thân thiết của cô dâu, chú rể mới được mời cả tiệc trà và tiệc rượu. Tiệc trà cũng là một cơ hội tốt cho trai gái gặp gỡ nhau, giới thiệu tên, nhà cho nhau để gặp gỡ, cưa cắt sau này. Trong buổi tiệc trà thì chú rể thường vắng mặt ở nhà đàng trai vào đầu buổi tiệc vì phải đi tới nhà cô dâu, chào khách, tiếp khách nhà cô dâu. Xong đâu đó chú rể mới về nhà tiếp bạn bè. Khi đi tiệc trà thì bạn bè không đi tiền như bây giờ mà chủ yếu là tặng quà cho cô dâu, chú rể. Quà thì cũng đơn giản như bức tranh, bộ ly chén, bình trà, bộ xoong nồi...Tiệc trà tổ chức đơn giản nhưng rất vui và ấm cúm. Thời đó cũng hay đi tiệc trà kéo: bạn mời mình thôi nhưng hay kéo thêm bạn khác nữa đi cho vui.
 
Hồi đó chưa có điện nên thường mượn đèn măng xông để thắp sáng trong buổi tiệc trà. Thường trong tiệc trà cũng không có karaoke hay nhạc sống gì cả. Thường chỉ mở nhạc nghe. Nhạc thì mở bằng máy cassette. Thời trước năm 1990 thì nhà nào có được một cái máy cassette thì cũng gọi là có tài sản rồi. Trong xóm cũng rất ít nhà có máy cassette nên máy cassette rất có giá trị. Thường trong ngày cưới mượn máy về mở nhạc nghe trong tiệc đám cưới, và phải có chủ máy đi theo để thay băng, thay đĩa. Vì vậy mà có khi chủ máy cassette đi ăn cả chục cái đám cưới trong một năm.
 
Buổi tiệc rượu hay tiệc mặn thì dọn đãi khách ngay buổi sáng trước khi họ trai tới nhà cô dâu trong buổi lễ vu vi đối với nhà gái và trước khi rước dâu về làm lễ thành hôn đối với nhà trai. Các món ăn thì chủ yếu làm từ thịt heo và gà, vịt và thường đãi bún chứ ít khi có cơm. Dọn ăn bằng bàn tròn, xung quanh bàn ăn thì thường gồm ba dĩa rau sống, ba chén mắm, ba tô canh, ba chén dưa món, ba tô bún…Món rau sống trong đám cưới đặc biệt là không có giá đỗ, kị giá đỗ vì sợ cưới xong về chia tay, phải ở giá.
Món ăn ngon, sang trọng hay không được đánh giá chủ yếu là tập trung vô dĩa giữa. Món ăn thường bổ sung liên tục suốt bữa ăn. Riêng dĩa giữa thì thường bảy, tám món, có khi tới mười món, đám nào bèo bèo cũng sáu, bảy món và thường có các món: gỏi, súp, dĩa phay, chả giò, chả thủ, chả nây, nem gói, vịt tiềm, gà luột…Thường khi nhà có con cưới vợ hay gả chồng thì cha mẹ lo nuôi một con heo để làm thịt cho đám cưới. Nếu định ngày cưới cận ngày quá thì mua heo về làm. Khách khứa tới thì nhắm đủ mười hai người là ráp vào bàn ăn chứ không phân biệt lớn nhỏ gì. Mỗi bàn ăn thường có hai người nhà phục vụ, một người lo việc thay món và một người lo việc châm rượu. Đám cưới chỉ đãi rượu chứ không có bia như bây giờ và thường chỉ rượu trắng, nhà nào ngon hơn thì rượu ngâm đinh lăng, chuối hột…Mỗi bàn chỉ để ba ly rượu, uống theo vận, ai không uống được thì cho qua vận. Các anh thì hay ép nhau uống rượu trong bữa ăn. Riêng bàn ăn dọn họ hai bên là bàn phải ngon nhất, món ăn đẹp nhất…để thể hiện tấm lòng dành cho nhau của hai bên sui gia họ hàng.
 
Khi tới đám thì khách khứa thường ngồi uống trà trước rồi mới ngồi vào bàn ăn sau. Trong lúc uống trà thì gởi tiền mừng đám cưới cho con em. Thường có một người đại diện đứng ra nhận tiền mừng và ghi vào sổ để gia chủ biết sau này còn đi đám lại để trả nợ. Khi nhận tiền thì người nhận sẽ rót một ly rượu mời người gởi tiền mừng. Những người nhà như anh em, cô, chú, bác, ông bà…thì cho tiền, vàng cho cô dâu , chú rể ngay sau khi làm lễ thành hôn xong.
Đi rước dâu thì nếu gần đi bộ, xa thì đi xe lam hay mượn xe máy chở nhau đi, cũng có đám đi bằng xe đạp. Khi đi đưa rước dâu thì không được dừng xe lại giữa đường, đi ngay về thẳng chứ không được ghé đâu cả. Để chào mừng khi họ nhà trai đến hay họ nhà gái đến thì có treo phong pháo ngay chỗ cửa rạp để đốt trước khi rước họ vào nhà.
 
Thời đó xe máy ít nên có khi con trai dù lớn trên hai mươi tuổi vẫn ít người biết chạy xe máy. Trước khi đám cưới cả tháng thì phải mượn xe tập trước. Có anh tập chạy ngoài đường không sao nhưng về tới nhà là quên, quýnh quáng không biết thắng xe lại thế nào nên vòng ra chạy tiếp. Anh nào lanh trí thì khum xuống khóa bình xăng, chạy một hồi nó hết xăng nó tắt. Mấy anh không biết thì chạy vòng vòng miết, hết xăng thì dắt về. Có anh thì chạy về đến nhà do lấn cấn không biết thắng thế nào, nên ũi thẳng vô nọc rơm hay hàng rào chờ người khác ra tắt máy dùm. Một vài anh khi đám cưới chở cô dâu không làm chủ được tay ga, tay côn mà làm văng cả cô dâu xuống ruộng. Xe hồi đó thường là xe Honda 67 hay Honda Dame, là xe cũ lại là xe mượn nữa nên một số cặp đang đi thì xe tắt máy phải xuống dắt, chú rể dắt còn cô dâu thì đẩy. Dù đường xa gì cũng đẩy về nhà thẳng chứ không ghé đâu vì sợ ghé thì sẽ bị lật ghe, rớt bánh xe, đứt gánh giữa đường. Một số anh thì nổ máy xe xong tưởng cô dâu đã leo lên ngồi rồi, chạy về tới nhà mới biết không có cô dâu trên xe…Một số đám cưới đi bộ, có khi đi bộ vài cây số và có mang theo những cây dù che mưa, che nắng.
 
Một số người cưới vợ hay lấy chồng bên kia sông Đà Rằng, bên khu 2 (Tuy Hòa 2) khi đưa đám thì lên bến đò Phong Niên hay bến đò Lò Giấy để đi đưa, rước dâu bằng ghe. Ghe đưa rước dâu thường là những chiếc ghe kinh(ghe to). Ngày nay, đưa rước dâu bằng ghe chắc có lẽ không còn nữa vì đã có cây cầu Dinh Ông bắt qua sông Đà Rằng, nối liền huyện Tây Hòa và Huyện Phú Hòa của tỉnh Phú Yên, giúp thuận tiện cho việc thông thương giữa các vùng kinh tế và văn hóa giữa hai bên bờ sông với nhau rồi. Thời đó, nước sông Đà Rằng mùa lụt thì ngập cả xóm làng. Nếu đám cưới gặp mùa lụt thì đưa bằng ghe ra đường cái quan rồi đi xe. Khi họ tới nhà cô dâu hay nhà chú rể thì có ghe đưa rước. Có một vài đám cưới vào mùa mưa đi bằng đò đã bị lật đò và gây ra những cái chết thương tâm cho hai bên họ hàng.
Ngoài hình thức cưới xin đàng hoàng, bài bản một cách chính thức thì còn có các phương thức cưới xin khác như là ở rể hay xí lượm cô dâu và cưới chạy tang…
 
Đám cưới gởi rể hay ở rể thì không tổ chức ở nhà trai, gia đình nhà trai chuẩn bị mâm quả và qua nhà gái tổ chức cưới. Thường qua nhà gái thì nhà trai đi 6 người với 4 mâm quả. Sau khi làm lễ ở nhà gái, ăn uống xong rồi họ hàng nhà trai ra về để chú rể lại. Đám cưới ở rể thường là do gia đình hai bên xa xôi đi lại khó khăn…Cũng có khi do nhà trai nghèo quá không đủ chi phí để làm đám cưới hay do đã ăn cơm trước kẻng đã có bầu…Thường nhất là vì nhà gái ít con, chỉ có một người con gái, muốn con rể sau khi cưới về ở luôn nhà vợ.
Đám cưới chạy tang là khi hai nhà đã viếng nhà hay đám hỏi rồi nhưng có cha mẹ hay ông bà, chú bác…bệnh nặng hay già yếu đang hấp hối thì hai bên gia đình có thể thống nhất là cái lễ nhỏ nhỏ để báo cáo gia tiên rồi cho về ở chung thành vợ thành chồng luôn mà không qua cưới hỏi chính thức. Trước kia, nhà có cha mẹ hay ông bà hai bên nội ngoại mất thì phải để tang ba năm sau ba năm mới được cất nhà hay cưới gả nên phải làm đám cưới chạy tang để hợp thức hóa đám cưới. Vui nhất có lẽ là chuyện xí lượm cô dâu.
 
Xí lượm cô dâu thì hai bên vẫn tổ chức lễ cưới hỏi đàng hoàng nhưng cô dâu không làm lễ báo gia tiên. Khi cô dâu được họ nhà gái đưa tới cửa ngõ thì chú rể và mẹ chạy ra xí, lượm được cô dâu và rước thẳng vô buồng dành cho cô dâu chú rể mà không qua thủ tục làm báo cáo ông bà tổ tiên hay lễ nhập gia gì. Có khi họ nhà gái mới ra khỏi nhà, chưa lên xe thì chú rể tới xí lượm cô dâu chở về trước rồi họ nhà gái mới qua nhà trai sau....Đám cưới xí lượm cô dâu ngày xưa xảy ra trong trường hợp cô dâu lỡ có mang thai trước, gặp năm cô dâu còn trong hạn tam tai hoặc khi không hạp tuổi...nhưng vì hai đứa nhỏ yêu nhau quá đòi chết đòi sống buộc hai bên phải tiến hành đám cưới nhưng không muốn làm với hình thức ở rể. Một số cặp yêu nhau mà bị gia đình cấm cản nên nghĩ ra cách nói dối là có bầu rồi để buộc gia đình hai bên làm đám cưới xí lượm hay gởi rể. Thường cô dâu xí lượm thì không đưa vào nhà bằng cửa ngõ chính mà đi bằng cửa ngõ sau hay mở một cái trổ để đưa cô dâu vào. Vào sân rồi thì vô nhà bằng cửa sau hay của nhà dưới chứ không vô bằng cửa trước, cửa giữa của nhà trên.
 
Thời nào phụ nữ cũng là số 1 và cô dâu dù xấu hay đẹp gì cũng luôn ở vị trí đặc biêt trong ngày cưới. Thế nên khi họ nhà gái tới, đưa cô dâu qua nhà chồng thì bà con hay đứng bên đường xem. Lúc đến gần nhà thì tất cả mọi người ùa ra xem, lúc làm lễ thì xúm vô, chen lấn nhau vô coi xem cô dâu như chen lấn khi vào cổng khi coi phim, xem hát. Nhất là các bà đang phụ nấu nướng dưới bếp, nghe cô dâu tới là bỏ cả, lên xem cô dâu mới được. Trẻ con như chúng tôi thì chen không được nên đu lên lên cửa sổ xem. Cô dâu thì mặc áo dài, khăn đóng và tay câm bình bông lay ơn. Trong ba ngày đầu cô dâu không được về nhà mẹ. Nhiều cô dâu vì là lần đầu tiên trong đời xa nhà nên nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ anh chị em nên hay khóc thút thít với chồng. Nhiều anh chồng thương vợ thì tranh thủ lúc chở vợ đi trả đồ cưới thì tạt vào nhà cha mẹ vợ cho cô dâu bớt nhớ nhà. Chỉ sau ba ngày chú rể mới chính thức chở cô dâu về nhà cha mẹ vợ. Trong 1 tuần sau khi cưới thì lúc đi về nhà hai bên cô dâu đều phải mặc áo dài.
Ngày xưa, mỗi khi trong xóm có đám cưới nếu không bận đi học thì chúng tôi hay chạy đi xem đám cưới trong xóm. Thường là canh lượm pháo rơi rớt ra khi đốt pháo chào mừng họ đến. Ngày tết pháo nhiều nên lượm dễ, còn ngày đám cưới chỉ có một mà nhiều thằng tranh nhau quá nên lượm được một viên pháo thúi là mừng dấp té. Nhiều đứa tới đám cưới tranh thủ vô ăn chực, kiếm một bụng thịt mỡ. Cứ thấy nhà đám cưới dọn ra nia cho trẻ con trong dòng họ ăn là sáp vô ăn vì đám cưới đông người nên không ai biết ai. Tôi thì không ăn kiểu này, nhiều khi mấy người lớn thấy mình quen ra dắt vô ăn nhưng tôi cũng ít khi vào ăn. Tính tôi hồi nhỏ nhút nhát và hay mắc cỡ, thẹn thùng, bẽn lẽn…ba má tôi cũng cấm đi ăn mấy vụ như thế này nên tôi từ chối vào ăn chứ tôi cũng chẳng phải đàng hoàng hay tốt lành gì. Nhiều khi mấy anh chị hay mấy người quen phụ đám thấy tôi lảng vảng bên ngoài để chờ lượm pháo hay coi cô dâu thì mang ra cho cái kẹo, miếng rim hay miếng bánh da lợn…
 
Hồi nhỏ chúng tôi cũng có chơi trò cô dâu chú rể. Mấy đứa con gái xinh xắn thì thường có nhiều thằng xí làm cô dâu cho mình.
Từ những năm sau năm 1990 thì tôi đã đi xa nhà nên không còn có dịp xem đám cưới hay đi dự đám cưới, đám tiệc trà ở quê nữa. Tôi hầu như cũng không có dịp ăn đám cưới của bạn bè hay anh chị em trong gia đình vì hoàn cảnh khó khăn trong thời học đại học. Một số đám cưới bạn bè ở quê nhưng có tổ chức ở Sài gòn thì tôi có tham dự.
 
Theo xu hướng thay đổi, phát triển của thời đại thì chúng ta cũng phải thay đổi để theo cho kịp với thay đổi của nhân loại. Có những sự thay đổi nhanh, cấp tốc, bùng nổ…do yêu cầu cấp bách của cuộc sống, có những cái âm thầm, lặng lẽ đổi thay. Một trong những phong tục thay đổi tương đối chậm ở thôn quê là phong tục đám cưới. Sau này, một số thủ tục trong viếng nhà, đám nói, đám hỏi, đám cưới cũng đã dần thay đổi cho bớt rườm rà và ngày càng gọn nhẹ. Ví dụ như : thời gian sau này đám hỏi và đám nói nhập một thành đám hỏi hay cũng có khi đám hỏi và đám cưới cũng làm 2 cái lễ nhưng cùng một ngày…Các lễ nghi, thủ tục của đám cưới cũng đơn giản bớt đi, giảm đi rất nhiều.
 
Trời đất có quy luật của trời đất, thiên nhiên, cây cỏ có cuộc sống và quy luật của nó. Xuân, hạ, thu, đông cứ thế nối tiếp nhau một cách đều đặn, bất biến. Gần đây, một số nhà khoa học phát hiện ra rằng các phân tử, nguyên tử nhỏ xíu cũng có phản ứng thẹn thùng khi có con người nhìn vào chúng. Chúng ta, ai sinh ra trên cõi đời này cũng có lý do của nó (chỉ là lý do là gì thì ta chưa biết mà thôi). Khi còn nhỏ thì chúng ta thường hay thẹn thùng, mắc cỡ với người khác giới. Mỗi người chúng ta sinh ra trong một thời điểm, thời gian nào đó và không ai có thể lưa chọn ngày sinh, tháng đẻ cho mình được. Mỗi thời có cái hay của nó, chúng ta cũng chẳng nên than trời, trách đất hay than thân, trách phận làm gì. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong thời chưa có điện, chưa có internet, smart phone, laptop…nhưng ngược lại chúng tôi có may mắn được sống, lớn lên, trải qua một thời kỳ vừa có chiến tranh vừa có hòa bình, buổi giao thời giữa hiện đại và truyền thống. Mỗi người chúng ta gặp được nửa kia của đời mình trong cuộc đời này để tiến tới hôn nhân, sống với nhau, sống cùng nhau dù theo phương thức nào đi nữa thì chung quy lại cũng là do duyên, do nợ.
 
Tôi có nhiều bạn bè, người thân nên tôi đi đám cưới cũng khá nhiều. Thế nhưng, những kỉ niệm về đám cưới làm tôi nhớ mãi là những đám cưới ngày xưa ở quê, đám cưới của thời bao cấp. Các anh chị cưới nhau ngày đó giờ chắc cũng đã có sui gia, có dâu, có rể, có cháu nội, cháu ngoại và đã yên bề gia thất hết rồi. Hình ảnh chú rể chở cô dâu mặc áo dài trên chiếc xe đạp cũ của những ngày xa xưa ấy vẫn còn mãi in sâu trong tâm trí tôi. Tôi đã từng có hai mươi năm đầu đời sống trọn vẹn với quê hương và ba mươi năm sống tha phương, xa xứ. Thế nhưng, như là định mệnh, như là số phận: tôi vẫn luôn là người nhà quê cũ lĩn, vẫn luôn thuộc về người xứ nẫu. Tôi vẫn thường miên man hoài niệm về những ngày xa xưa, hay nói về những chuyện cũ kỹ và luôn nghĩ về nơi chốn xa xăm mà giờ chỉ còn trong miền ký ức: những ký ức đã ăn sâu, khắc đậm trong tôi với bao kỉ niệm của hai mươi năm đầu đời
Sài Gòn, Tháng 5/2021. Khờ Ang
Cố vấn lễ nghi : Bá Toàn

© Copyright 2020-2021 TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRỰC TUYẾN TVO. Thiết kế bởi Zozo